Bây giờ, gió đã đổi chiều. Người ta quay về tìm ngay trong vườn nhà mình “bát cháo hành Thị Nở” để qua cơn cảm mạo. Y học cổ truyền đang lên ngôi. Nhưng, để “bốc” cho đúng thuốc, thì phải bắt mạch cho chuẩn, chữa khỏi đã đành, mà hơn thế nữa là để người Việt mình thấu cảm được vị thuốc ở quanh ta chứ đâu xa, biết trân quý và xem như là gia bảo lẫn làm giàu từ đó.
Cuộc trò chuyện của Nông thôn Việt với TTND.PGS.TS. Đậu Xuân Cảnh - Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam.

TTND.PGS.TS Đậu Xuân Cảnh - Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam.
Rất đáng để tạo thương hiệu riêng
Chúng ta tự hào là có vốn y học cổ truyền (YHCT) giàu có, nhưng “ở nhà nhất mẹ nhì con…”, muốn biết ta ra sao thì phải so với thiên hạ! Vậy thưa ông, Đông y Việt Nam hiện đang ở đâu trên bản đồ YHCT thế giới?
YHCT Việt Nam đã và đang được nhìn nhận ngày càng rõ, không chỉ như một di sản văn hóa dân tộc, mà như một phần của hệ thống YHCT toàn cầu. Theo một bài viết gần đây, nền YHCT Việt được đánh giá là “vươn tầm thế giới”, khi Việt Nam tham gia các diễn đàn y tế quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm kết hợp YHCT và y học hiện đại.
Trong nước, chúng ta có đủ về khung pháp lý, chính sách, hội, ngành đối với YHCT. Tiếp đến là thực hành lâm sàng thực tế ở các bệnh viện YHCT, chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Trong bối cảnh y học cổ truyền toàn cầu đang phát triển, có một số hệ thống/truyền thống mà YHCT Việt, nếu muốn vươn tầm, sẽ phải học hỏi, cạnh tranh về chất lượng, độ tin cậy, nghiên cứu khoa học, từ y học cổ truyền Trung Quốc (TCM), y học cổ truyền Nhật Bản (Kampo), hệ thống y học cổ truyền - bổ trợ đang phát triển mạnh ở nhiều nước phương Tây, Mỹ, châu Âu, khi xu hướng “tối giản, thiên nhiên” ngày càng được ưa chuộng. Các phương pháp y học cổ truyền - bổ trợ từ Ấn Độ, Đông Nam Á, Đông Âu, châu Phi… cũng đang được quốc tế quan tâm do nhu cầu đa dạng phương thức chăm sóc sức khỏe, đặc biệt về bệnh mãn tính, phòng và hỗ trợ điều trị… Tất cả đều là “đối thủ”, cũng là “điểm chuẩn” để Việt Nam học hỏi, hoàn thiện.
Vậy đâu là lợi thế khác biệt của Nam Dược?
Lợi thế khác biệt của YHCT Việt, theo tôi là không thiếu, rất đáng khai thác để tạo ra thương hiệu riêng, như cà gai leo - ứng viên sáng giá trong nhóm cây thuốc “sinh học gan”; sâm Ngọc Linh - ứng viên số 1 cho thương hiệu quốc gia; nghệ vàng - đặc biệt trong công nghệ Nano Curcumin, rồi xạ đen, đinh lăng, ba kích…

Vườn dược liệu không chỉ là nguyên liệu, mà là ký ức, tri thức và tương lai của Đông y Việt.
Ba trụ cột đều… long chân
Thưa ông, “Rằng hay thì thật là hay…”, nhưng rõ ràng YHCT lép vế trước Tây y, thậm chí có lúc nhạt nhòa. Vậy phải “đọc vị” thế nào cho chuẩn?
Nếu nhìn thật kỹ và bằng con mắt chiến lược, tôi cho rằng Đông y Việt Nam có tiềm năng lớn hơn cách chúng ta đang đối xử với nó. Nguồn lực của Việt Nam hiện không thua kém bất kỳ quốc gia nào trong khu vực, chỉ là chúng ta chưa tổ chức, chuẩn hóa và khai thác đúng tầm.
Ta cứ hình dung bức tranh 3 trụ cột: dược liệu - tri thức bản địa - đội ngũ chuyên môn, với những điểm mạnh và hạn chế đi kèm.
Thứ nhất, nguồn dược liệu tiềm năng rất lớn, nhưng giá trị khai thác rất nhỏ. Việt Nam có hơn 12.000 loài thực vật, trong đó khoảng hơn 5.000 loài có thể dùng làm dược liệu. Đi kèm đó là điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển vùng dược liệu, khi Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ… đều có thể trở thành vùng nguyên liệu công nghệ cao.
Nhưng chúng ta lại thiếu chuẩn hóa (GACP, GMP); thiếu ngân hàng giống quốc gia; vùng trồng manh mún, sản phẩm không đồng nhất, rồi dược liệu trôi nổi, pha trộn, nhập lậu. Dược liệu Việt Nam giàu như một “mỏ vàng”, nhưng chúng ta mới chỉ nhặt vàng vụn trên bề mặt.
Hai, tri thức bản địa. Chúng ta có hàng nghìn bài thuốc quý từ 54 dân tộc anh em, nhiều bài có thể chuyển thành sản phẩm quốc gia nếu được nghiên cứu. Thuốc nhiều đã đành, nhưng nó độc đáo là thuốc Nam phù hợp thể tạng, khí hậu, thói quen ăn uống của người Việt hơn nhiều nền y học khác, và dù không phải bài thuốc nào cũng có nghiên cứu, nhưng rất nhiều bài thuốc đã được dùng liên tục hàng trăm năm, đó cũng là một dạng bằng chứng thực nghiệm.
Nhưng điểm yếu cũng từ đây, khi tri thức phần lớn nằm trong đầu các thầy thuốc cao tuổi, mai một rất nhiều. Việc quản lý thì thiếu hệ thống hóa - số hóa - tiêu chuẩn hóa, khiến nhiều bài thuốc hay không có nghiên cứu, không thể thương mại hóa, không thể đưa vào hệ thống y tế chính thống.
Cuối cùng là đội ngũ chuyên môn, tâm huyết nhiều, tài giỏi không ít, nhưng thiếu lực lượng tinh hoa dẫn dắt.
Tôi muốn nhấn mạnh, rằng Việt Nam đã có thành tựu đủ sức “so vai” quốc tế - chỉ thiếu một cú hích hệ thống, mà thiếu nhất là chiến lược quốc gia thống nhất.
Hơn 80% nguyên liệu phải nhập khẩu, hiểu thế nào về con số này, thưa ông?
Có thể nói ngắn gọn: vàng ở dưới chân, nhưng chúng ta chưa biết đãi vàng.Nguồn dược liệu của ta được coi là giá trị bậc nhất Đông Nam Á, tuy nhiên, phân tán, manh mún, nhiều loài đang giảm nhanh, do khai thác quá mức và chưa có chương trình bảo tồn giống bài bản. 80 - 85% dược liệu Việt Nam vẫn phải nhập khẩu, nghe thì vô lý, nhưng là sự thật, bởi thiếu đủ thứ như đã nói, từ đó đưa đến mất niềm tin và khó xây dựng thương hiệu mạnh.
Muốn thoát khỏi “bóng ma” con số nhập khẩu trên, thì phải “đãi” cho được vàng, quy hoạch vùng trồng chuẩn GACP; xây dựng ngân hàng gen; làm nghiên cứu lâm sàng quy mô; xây dựng thương hiệu quốc gia “Vietnam Herbal Medicine”. Lúc đó, các cây thuốc Việt Nam hoàn toàn có thể đứng chung sân với sâm Hàn Quốc, linh chi Nhật, trà xanh Trung Quốc, nghệ Ấn Độ.
“Tam Thuận” - gương mặt YHCT thế kỷ 21
Tín hiệu tốt lành là xu hướng chữa bệnh bằng YHCT trong nước ngày một tăng lên, dự báo sẽ không dừng lại, tạm gọi YHCT đang bước vào “kỷ nguyên thứ hai”. Nhưng làm thế nào để biến nó thành sản phẩm y tế phổ biến, rẻ, tác dụng tốt, và quan trọng nhất là mang gương mặt của bản sắc văn hóa Việt?
Điều chúng ta thiếu chính là cách biến cây cỏ Việt Nam thành sản phẩm y tế quốc dân, vừa hiệu quả, vừa phổ cập, vừa mang bản sắc Việt Nam. Tôi cho rằng, Việt Nam hoàn toàn có thể làm được điều đó nếu có chiến lược rõ ràng.
Một là chuẩn hóa từ gốc, đó là giống - vùng trồng - hoạt chất. Muốn thuốc tốt, phải bắt đầu từ ruộng đồng, từ khu rừng. Khi nguyên liệu chuẩn, sản phẩm mới rẻ, tốt và đồng nhất. Bản sắc Việt bắt đầu từ nguồn dược liệu thuần Việt, trồng bởi người Việt, dựa trên tri thức Việt.
Hai, biến tri thức bản địa thành tri thức khoa học, phải thu thập, số hóa, bảo tồn bài thuốc dân gian, từ đó tách chiết hoạt chất, kiểm định tác dụng sinh học, làm nghiên cứu tiền lâm sàng - lâm sàng, chuyển bài thuốc hay thành sản phẩm chuẩn, có hồ sơ khoa học. Đây là cách Hàn Quốc đã làm với nhân sâm và Nhật Bản làm với Kampo. Khi tri thức Việt được khoa học hóa, nó vừa hiệu quả vừa mang đậm bản sắc, không lai tạp.
Ba là công nghệ hóa, hiện đại hóa thuốc Nam thành dạng dùng tiện lợi và phổ thông. Dù bài thuốc tốt đến đâu, nếu phải sắc cả tiếng đồng hồ thì người trẻ sẽ không dùng. Ta phải làm cho thuốc Nam tiện như thuốc Tây, nhưng hiền hơn, an toàn hơn, đưa vào ứng dụng trong hệ thống y tế. Đây là chìa khóa để biến dược liệu thành sản phẩm phổ biến và rẻ.
Bốn, chuỗi giá trị phải đặt người nông dân - người bản địa vào trung tâm. Sản phẩm mang bản sắc Việt chỉ có giá trị khi người dân địa phương làm chủ vùng trồng, được hưởng lợi công bằng, có nghề ổn định từ chính cây thuốc bản địa. Ở đây giải pháp đúng là phải có các hợp tác xã dược liệu chuẩn, có kỹ sư nông nghiệp kèm cặp; doanh nghiệp cam kết bao tiêu với giá sàn; nhà nước hỗ trợ chứng nhận, bảo hộ giống dược liệu. Khi người dân bản địa sống tốt từ cây thuốc bản địa, sản phẩm tự nhiên sẽ có “linh hồn Việt”.

Cuối cùng là xây dựng “Thương hiệu quốc gia” cho Nam Dược Việt Nam. Đây là điều Việt Nam chưa từng làm đúng tầm. Ta phải có hệ thống logo, chuẩn chất lượng, truy xuất. Tất cả tạo nên “thần thái Việt Nam” mà không quốc gia nào có thể sao chép. Khi đó bản sắc Việt sẽ thể hiện rõ ràng ở 3 chữ “thuận tự nhiên - thuận dân tộc - thuận thời đại”. Đó chính là “gương mặt văn hóa Việt” trong YHCT thế kỷ 21.
Rất đáng để tạo thương hiệu riêng
Chúng ta tự hào là có vốn y học cổ truyền (YHCT) giàu có, nhưng “ở nhà nhất mẹ nhì con…”, muốn biết ta ra sao thì phải so với thiên hạ! Vậy thưa ông, Đông y Việt Nam hiện đang ở đâu trên bản đồ YHCT thế giới?
YHCT Việt Nam đã và đang được nhìn nhận ngày càng rõ, không chỉ như một di sản văn hóa dân tộc, mà như một phần của hệ thống YHCT toàn cầu. Theo một bài viết gần đây, nền YHCT Việt được đánh giá là “vươn tầm thế giới”, khi Việt Nam tham gia các diễn đàn y tế quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm kết hợp YHCT và y học hiện đại.
Trong nước, chúng ta có đủ về khung pháp lý, chính sách, hội, ngành đối với YHCT. Tiếp đến là thực hành lâm sàng thực tế ở các bệnh viện YHCT, chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Trong bối cảnh y học cổ truyền toàn cầu đang phát triển, có một số hệ thống/truyền thống mà YHCT Việt, nếu muốn vươn tầm, sẽ phải học hỏi, cạnh tranh về chất lượng, độ tin cậy, nghiên cứu khoa học, từ y học cổ truyền Trung Quốc (TCM), y học cổ truyền Nhật Bản (Kampo), hệ thống y học cổ truyền - bổ trợ đang phát triển mạnh ở nhiều nước phương Tây, Mỹ, châu Âu, khi xu hướng “tối giản, thiên nhiên” ngày càng được ưa chuộng. Các phương pháp y học cổ truyền - bổ trợ từ Ấn Độ, Đông Nam Á, Đông Âu, châu Phi… cũng đang được quốc tế quan tâm do nhu cầu đa dạng phương thức chăm sóc sức khỏe, đặc biệt về bệnh mãn tính, phòng và hỗ trợ điều trị… Tất cả đều là “đối thủ”, cũng là “điểm chuẩn” để Việt Nam học hỏi, hoàn thiện.
Vậy đâu là lợi thế khác biệt của Nam Dược?
Lợi thế khác biệt của YHCT Việt, theo tôi là không thiếu, rất đáng khai thác để tạo ra thương hiệu riêng, như cà gai leo - ứng viên sáng giá trong nhóm cây thuốc “sinh học gan”; sâm Ngọc Linh - ứng viên số 1 cho thương hiệu quốc gia; nghệ vàng - đặc biệt trong công nghệ Nano Curcumin, rồi xạ đen, đinh lăng, ba kích…
Ba trụ cột đều… long chân
Thưa ông, “Rằng hay thì thật là hay…”, nhưng rõ ràng YHCT lép vế trước Tây y, thậm chí có lúc nhạt nhòa. Vậy phải “đọc vị” thế nào cho chuẩn?
Nếu nhìn thật kỹ và bằng con mắt chiến lược, tôi cho rằng Đông y Việt Nam có tiềm năng lớn hơn cách chúng ta đang đối xử với nó. Nguồn lực của Việt Nam hiện không thua kém bất kỳ quốc gia nào trong khu vực, chỉ là chúng ta chưa tổ chức, chuẩn hóa và khai thác đúng tầm.
Ta cứ hình dung bức tranh 3 trụ cột: dược liệu - tri thức bản địa - đội ngũ chuyên môn, với những điểm mạnh và hạn chế đi kèm.
Thứ nhất, nguồn dược liệu tiềm năng rất lớn, nhưng giá trị khai thác rất nhỏ. Việt Nam có hơn 12.000 loài thực vật, trong đó khoảng hơn 5.000 loài có thể dùng làm dược liệu. Đi kèm đó là điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển vùng dược liệu, khi Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ… đều có thể trở thành vùng nguyên liệu công nghệ cao.
Nhưng chúng ta lại thiếu chuẩn hóa (GACP, GMP); thiếu ngân hàng giống quốc gia; vùng trồng manh mún, sản phẩm không đồng nhất, rồi dược liệu trôi nổi, pha trộn, nhập lậu. Dược liệu Việt Nam giàu như một “mỏ vàng”, nhưng chúng ta mới chỉ nhặt vàng vụn trên bề mặt.
Hai, tri thức bản địa. Chúng ta có hàng nghìn bài thuốc quý từ 54 dân tộc anh em, nhiều bài có thể chuyển thành sản phẩm quốc gia nếu được nghiên cứu. Thuốc nhiều đã đành, nhưng nó độc đáo là thuốc Nam phù hợp thể tạng, khí hậu, thói quen ăn uống của người Việt hơn nhiều nền y học khác, và dù không phải bài thuốc nào cũng có nghiên cứu, nhưng rất nhiều bài thuốc đã được dùng liên tục hàng trăm năm, đó cũng là một dạng bằng chứng thực nghiệm.
Nhưng điểm yếu cũng từ đây, khi tri thức phần lớn nằm trong đầu các thầy thuốc cao tuổi, mai một rất nhiều. Việc quản lý thì thiếu hệ thống hóa - số hóa - tiêu chuẩn hóa, khiến nhiều bài thuốc hay không có nghiên cứu, không thể thương mại hóa, không thể đưa vào hệ thống y tế chính thống.
Cuối cùng là đội ngũ chuyên môn, tâm huyết nhiều, tài giỏi không ít, nhưng thiếu lực lượng tinh hoa dẫn dắt.
Tôi muốn nhấn mạnh, rằng Việt Nam đã có thành tựu đủ sức “so vai” quốc tế - chỉ thiếu một cú hích hệ thống, mà thiếu nhất là chiến lược quốc gia thống nhất.
Hơn 80% nguyên liệu phải nhập khẩu, hiểu thế nào về con số này, thưa ông?
Có thể nói ngắn gọn: vàng ở dưới chân, nhưng chúng ta chưa biết đãi vàng.Nguồn dược liệu của ta được coi là giá trị bậc nhất Đông Nam Á, tuy nhiên, phân tán, manh mún, nhiều loài đang giảm nhanh, do khai thác quá mức và chưa có chương trình bảo tồn giống bài bản. 80 - 85% dược liệu Việt Nam vẫn phải nhập khẩu, nghe thì vô lý, nhưng là sự thật, bởi thiếu đủ thứ như đã nói, từ đó đưa đến mất niềm tin và khó xây dựng thương hiệu mạnh.
Muốn thoát khỏi “bóng ma” con số nhập khẩu trên, thì phải “đãi” cho được vàng, quy hoạch vùng trồng chuẩn GACP; xây dựng ngân hàng gen; làm nghiên cứu lâm sàng quy mô; xây dựng thương hiệu quốc gia “Vietnam Herbal Medicine”. Lúc đó, các cây thuốc Việt Nam hoàn toàn có thể đứng chung sân với sâm Hàn Quốc, linh chi Nhật, trà xanh Trung Quốc, nghệ Ấn Độ.
“Tam Thuận” - gương mặt YHCT thế kỷ 21
Tín hiệu tốt lành là xu hướng chữa bệnh bằng YHCT trong nước ngày một tăng lên, dự báo sẽ không dừng lại, tạm gọi YHCT đang bước vào “kỷ nguyên thứ hai”. Nhưng làm thế nào để biến nó thành sản phẩm y tế phổ biến, rẻ, tác dụng tốt, và quan trọng nhất là mang gương mặt của bản sắc văn hóa Việt?
Điều chúng ta thiếu chính là cách biến cây cỏ Việt Nam thành sản phẩm y tế quốc dân, vừa hiệu quả, vừa phổ cập, vừa mang bản sắc Việt Nam. Tôi cho rằng, Việt Nam hoàn toàn có thể làm được điều đó nếu có chiến lược rõ ràng.
Một là chuẩn hóa từ gốc, đó là giống - vùng trồng - hoạt chất. Muốn thuốc tốt, phải bắt đầu từ ruộng đồng, từ khu rừng. Khi nguyên liệu chuẩn, sản phẩm mới rẻ, tốt và đồng nhất. Bản sắc Việt bắt đầu từ nguồn dược liệu thuần Việt, trồng bởi người Việt, dựa trên tri thức Việt.
Hai, biến tri thức bản địa thành tri thức khoa học, phải thu thập, số hóa, bảo tồn bài thuốc dân gian, từ đó tách chiết hoạt chất, kiểm định tác dụng sinh học, làm nghiên cứu tiền lâm sàng - lâm sàng, chuyển bài thuốc hay thành sản phẩm chuẩn, có hồ sơ khoa học. Đây là cách Hàn Quốc đã làm với nhân sâm và Nhật Bản làm với Kampo. Khi tri thức Việt được khoa học hóa, nó vừa hiệu quả vừa mang đậm bản sắc, không lai tạp.
Ba là công nghệ hóa, hiện đại hóa thuốc Nam thành dạng dùng tiện lợi và phổ thông. Dù bài thuốc tốt đến đâu, nếu phải sắc cả tiếng đồng hồ thì người trẻ sẽ không dùng. Ta phải làm cho thuốc Nam tiện như thuốc Tây, nhưng hiền hơn, an toàn hơn, đưa vào ứng dụng trong hệ thống y tế. Đây là chìa khóa để biến dược liệu thành sản phẩm phổ biến và rẻ.
Bốn, chuỗi giá trị phải đặt người nông dân - người bản địa vào trung tâm. Sản phẩm mang bản sắc Việt chỉ có giá trị khi người dân địa phương làm chủ vùng trồng, được hưởng lợi công bằng, có nghề ổn định từ chính cây thuốc bản địa. Ở đây giải pháp đúng là phải có các hợp tác xã dược liệu chuẩn, có kỹ sư nông nghiệp kèm cặp; doanh nghiệp cam kết bao tiêu với giá sàn; nhà nước hỗ trợ chứng nhận, bảo hộ giống dược liệu. Khi người dân bản địa sống tốt từ cây thuốc bản địa, sản phẩm tự nhiên sẽ có “linh hồn Việt”.
Cuối cùng là xây dựng “Thương hiệu quốc gia” cho Nam Dược Việt Nam. Đây là điều Việt Nam chưa từng làm đúng tầm. Ta phải có hệ thống logo, chuẩn chất lượng, truy xuất. Tất cả tạo nên “thần thái Việt Nam” mà không quốc gia nào có thể sao chép. Khi đó bản sắc Việt sẽ thể hiện rõ ràng ở 3 chữ “thuận tự nhiên - thuận dân tộc - thuận thời đại”. Đó chính là “gương mặt văn hóa Việt” trong YHCT thế kỷ 21.
Chỉ thị số 25/NQ-CP của Chính phủ về phát triển YHCT đã được thông qua. Ông đánh giá thế nào về những cơ hội mà Nghị quyết này mang lại cho ngành Đông y Việt Nam?
Cơ hội lớn nhất mà Chỉ thị số 25/CT-CP của Chính phủ về phát triển Y học cổ truyền (YHCT) mang lại cho ngành Đông y Việt Nam, phủ kín nhiều góc độ.
Lần đầu tiên, YHCT được đặt trong một nghị quyết riêng với tầm nhìn quốc gia dài hạn. Điều này đồng nghĩa YHCT không còn là “bổ trợ”, mà là trụ cột song hành với y học hiện đại. Nó tạo cơ sở pháp lý để ngân sách nhà nước, các quỹ khoa học, ODA và đầu tư tư nhân đổ vào mạnh mẽ, mở đường cho các mô hình từ phòng khám, viện dưỡng sinh, trung tâm trị liệu đến các liên doanh R&D quy mô lớn. Chuẩn hóa, hợp pháp hóa nhiều mô hình dịch vụ mới, giúp các doanh nghiệp đường hoàng triển khai dịch vụ mới, tăng niềm tin của người dân - điểm yếu lớn nhất của thị trường hiện nay. “Cởi trói” cho ngành dược liệu - cơ hội vàng để công nghiệp hóa. Đây là cơ hội đưa Việt Nam lên top 3 ASEAN về dược liệu trong 10 năm. Bên cạnh đó, nghị quyết còn giúp R&D và khoa học hóa YHCT được đầu tư thực chất; chăm sóc dự phòng và kinh tế sức khỏe được mở cửa mạnh; tạo cơ hội liên kết Đông - Tây, hình thành mô hình y học tích hợp; bảo hộ tri thức bản địa - lợi thế độc quyền cho Việt Nam.
Chính từ yêu cầu xã hội hóa của Nghị quyết, thì thị trường hàng tỷ USD được mở, trong đó doanh nghiệp tư nhân có vai trò trung tâm. Thị trường nội địa 2024 đã ~5 tỷ USD, dự kiến lên 8 - 10 tỷ USD vào 2030. Chỉ thị là “cú hích” để bùng nổ.
Lớp trẻ đương nhiên nắm sứ mệnh phát triển YHCT trong tương lai. Họ đang ở đâu trong đội hình này và ông nghĩ gì về vai trò của họ?
Tôi cho rằng thế hệ trẻ chính là “bản lề” quyết định YHCT Việt Nam sẽ đi về đâu trong 20 - 30 năm tới. Họ là lớp đầu tiên sống trong kỷ nguyên mới kết nối quốc tế, hiểu biết khoa học, làm chủ công nghệ, và chính vì thế họ có khả năng đưa YHCT vượt ra khỏi khuôn khổ “gia truyền - cảm tính” để bước vào kỷ nguyên tinh gọn - chuẩn hóa - hội nhập.
Tôi nghĩ lớp trẻ cần có, cần học, và cần thay đổi. Không chỉ học lại truyền thống, mà tái định nghĩa truyền thống. Nếu thế hệ trước có kinh nghiệm, có bài thuốc, có văn hóa, thì lớp sau trách nhiệm ghi chép, số hóa, hệ thống hóa để không mất đi tinh hoa cha ông. Cũng không thể giữ YHCT theo kiểu “biết sao làm vậy”, “kinh nghiệm truyền miệng”, mà phải cả quy trình công nghệ hóa. Không ai khác, chính họ là người xây dựng tiêu chuẩn và thương hiệu Việt Nam.
Trong 10 - 20 năm tới, thế giới sẽ cần chuẩn hóa liệu pháp kết hợp Đông - Tây, sản phẩm tự nhiên dựa trên bằng chứng. Nếu Việt Nam có vị thế mới, đó sẽ là công lao của lớp trẻ: những người dám đưa YHCT ra khỏi “ao làng” để bước vào phòng thí nghiệm và sân chơi quốc tế. Có thêm điều nữa, bạn trẻ cần tư duy kinh doanh - startup - thương hiệu. Tinh hoa không đủ, phải biết đưa tinh hoa vào sản phẩm có giá trị…
Họ phải có niềm tin rằng tri thức Việt đủ tầm bước ra thế giới.
Cảm ơn ông.
Theo Nongthonviet.vn