TTND.PGS.TS. Đậu Xuân Cảnh
Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam
Ngày 26/11/2025, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 219-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW (16/6/2022) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Kết luận 219 đặt ra yêu cầu tiếp tục quán triệt và làm sâu sắc hơn các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết 19, trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, khoa học – công nghệ phát triển mạnh, biến đổi khí hậu và thị trường nông sản ngày càng phức tạp.
Sau hơn 3 năm triển khai Nghị quyết 19, các kết quả tích cực đã góp phần bảo đảm an ninh lương thực, ổn định vĩ mô, tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nông thôn; tuy nhiên, Bộ Chính trị cũng chỉ rõ nhiều hạn chế: tăng trưởng nông nghiệp thiếu bền vững; ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số chưa sâu; thu nhập nông dân còn thấp và chịu rủi ro; nhân lực nông thôn “vừa thiếu vừa yếu”; ô nhiễm môi trường nông thôn chậm được khắc phục.
Trong dòng chảy đó, việc triển khai Kết luận 219 không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước hay các tổ chức chính trị - xã hội truyền thống ở nông thôn. Với đặc thù là tổ chức xã hội - nghề nghiệp gắn chặt với nguồn tài nguyên bản địa (cây thuốc, bài thuốc, tri thức dân gian), Hội Đông y Việt Nam có “dư địa hành động” rất rõ ràng: vừa góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng nông thôn, vừa tham gia phát triển kinh tế dược liệu xanh – một cấu phần ngày càng quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp giá trị cao.

Ảnh: TTND.PGS.TS Đậu Xuân Cảnh – Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, thăm mô hình trồng Hoài Sơn tại tỉnh Đắc Lắc.
Từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”: dược liệu là một hướng đi chiến lược
Kết luận 219 nhấn mạnh chuyển mạnh sang tư duy sản xuất hàng hóa, thúc đẩy cơ cấu lại theo hướng nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải thấp, ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số toàn diện, phát huy lợi thế từng vùng miền. Đây chính là “khung định hướng” để Hội Đông y Việt Nam đẩy mạnh vai trò kết nối vùng trồng – chế biến – tiêu thụ dược liệu theo chuỗi giá trị.
Thực tiễn cho thấy, phát triển vùng trồng dược liệu và hình thành chuỗi giá trị đang được thúc đẩy như một hướng sinh kế bền vững ở nhiều địa bàn, đặc biệt vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Ở góc độ kinh tế nông thôn, dược liệu có ưu thế: giá trị cao trên đơn vị diện tích; phù hợp mô hình hợp tác xã, liên kết doanh nghiệp; dễ gắn với chương trình OCOP, du lịch sinh thái – trải nghiệm; và đặc biệt “ăn khớp” với yêu cầu chuyển đổi xanh.
5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm Hội Đông y Việt Nam có thể triển khai ngay:
1) Quán triệt Kết luận 219 và “dịch” chính sách thành chương trình hành động của Hội
Kết luận 219 yêu cầu các cấp, các ngành tiếp tục quán triệt, thực hiện quyết liệt nhiệm vụ của Nghị quyết 19, đồng thời tập trung các nhiệm vụ trọng tâm. Với Hội Đông y Việt Nam, việc quán triệt không nên dừng ở hội nghị học tập văn bản, mà cần “chuyển hóa” thành bộ chỉ tiêu hoạt động cho hệ thống hội:
Mỗi tỉnh/thành hội chọn tối thiểu 1 mô hình “dược liệu – sinh kế” gắn với nông thôn mới. Mỗi xã/phường/đặc khu hội hình thành nhóm nòng cốt hướng dẫn vườn thuốc nam cộng đồng và truyền thông chăm sóc sức khỏe. Mỗi chi hội/cơ sở có kế hoạch phối hợp trạm y tế xã, hội nông dân, hợp tác xã để lan tỏa.
2) Phát triển vùng trồng dược liệu theo chuẩn xanh – hữu cơ – truy xuất nguồn gốc
Nếu nông dân là “trung tâm, chủ thể”, thì cây dược liệu phải trở thành cây làm giàu hợp pháp dựa trên quy trình chuẩn. Kết luận 219 yêu cầu trong năm 2026 cơ bản hoàn thành rà soát, thể chế hóa kịp thời chủ trương thành luật và văn bản hướng dẫn, tạo động lực mới cho nông nghiệp – nông thôn. Hội Đông y Việt Nam cần chủ động:
Phối hợp ngành nông nghiệp và y tế địa phương xây dựng bản đồ cây thuốc theo vùng sinh thái, ưu tiên cây bản địa, cây có thị trường ổn định. Hỗ trợ nông dân/hợp tác xã áp dụng quy trình canh tác sạch, hướng tới tiêu chuẩn phù hợp; tổ chức tập huấn kỹ thuật, thu hái, sơ chế. Thúc đẩy truy xuất nguồn gốc để chống “dược liệu trôi nổi”, bảo vệ uy tín nam dược.
Thực tế tại Hà Nội cho thấy nhiều địa phương ưu tiên phát triển nhóm cây dược liệu thông qua hợp tác xã, gắn hỗ trợ giống – kỹ thuật – bao tiêu, nâng hiệu quả kinh tế trên diện tích canh tác. Đây là kinh nghiệm tốt để nhân rộng theo tinh thần “phát huy lợi thế từng vùng”.
3) Gắn dược liệu với OCOP và công nghiệp chế biến nông thôn
Nghị quyết 19 đặt mục tiêu phát triển mạnh công nghiệp – dịch vụ nông thôn, chuyển dịch cơ cấu, tạo việc làm tại chỗ; đồng thời thúc đẩy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo. Dược liệu và sản phẩm từ dược liệu hoàn toàn có thể trở thành nhóm sản phẩm OCOP “mũi nhọn”, nhất là khi nhóm dược liệu/đồ uống đã ghi nhận những sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia ở giai đoạn gần đây.
Vai trò của Hội Đông y Việt Nam ở đây là bảo đảm tính đúng – sạch – thật của “sản phẩm nam dược”: chuẩn hóa bài thuốc/bài trà/bột xông/dầu xoa; tư vấn tiêu chuẩn hóa nhãn mác, hướng dẫn sử dụng an toàn; kết nối doanh nghiệp chế biến với vùng nguyên liệu; hỗ trợ các cơ sở hội viên đăng ký, nâng hạng OCOP. Từ những câu chuyện địa phương đưa “thuốc nam” thành sản phẩm OCOP cho thấy tiềm năng thị trường là có thật nếu làm bài bản và bảo đảm chất lượng.
4) Củng cố y tế cơ sở nông thôn: “vườn thuốc nam” gắn chăm sóc sức khỏe ban đầu
Một nông thôn hiện đại không chỉ có đường, điện, trường, trạm; mà còn cần dịch vụ y tế dễ tiếp cận và dự phòng tốt. Nhiều nơi đã phát huy mô hình vườn thuốc nam tại trạm y tế xã để tuyên truyền người dân nhận biết, sử dụng một số cây thuốc thông dụng, góp phần chăm sóc sức khỏe ban đầu, tiết kiệm chi phí.
Hội Đông y Việt Nam có thể mở rộng mô hình này theo hướng:
Chuẩn hóa danh mục cây thuốc nam tại cơ sở (phù hợp khí hậu – thổ nhưỡng). Kết hợp truyền thông phòng bệnh (cảm cúm, xương khớp, tiêu hóa…) với hướng dẫn dùng cây thuốc an toàn, tránh lạm dụng. Tổ chức đội ngũ lương y hội viên tham gia tư vấn sức khỏe cộng đồng, nhất là người cao tuổi, lao động nông thôn.
5) Tham gia bảo vệ môi trường nông thôn, thích ứng biến đổi khí hậu bằng “nông nghiệp dược liệu xanh”
Kết luận 219 đặt yêu cầu giải quyết hài hòa giữa phát triển nông nghiệp, nông thôn với bảo vệ môi trường, tăng thu gom xử lý rác thải, xử lý ô nhiễm sông ngòi, phục hồi hệ sinh thái. Với dược liệu, Hội Đông y có thể vận động hội viên và nông dân:
Hạn chế hóa chất, khuyến khích canh tác thân thiện môi trường; tận dụng phụ phẩm làm phân hữu cơ. Trồng cây thuốc nam gắn tạo cảnh quan “xanh – sạch – đẹp”, phù hợp tiêu chí nông thôn mới; nhiều mô hình cho thấy hiệu quả kép: vừa hỗ trợ dược liệu tại chỗ, vừa cải thiện môi trường sống.
Đề xuất cơ chế phối hợp và nguồn lực: “điểm nghẽn” phải tháo
Kết luận 219 nêu yêu cầu ưu tiên bố trí nguồn lực, trong đó phấn đấu đầu tư ngân sách nhà nước giai đoạn 2021–2030 cho nông nghiệp, nông thôn tăng ít nhất gấp 2 lần giai đoạn 2011–2020. Tuy nhiên, để Hội Đông y Việt Nam phát huy vai trò, cần cơ chế phối hợp rõ:
Phối hợp “tam giác” y tế – nông nghiệp – công thương/khoa học công nghệ trong phát triển dược liệu và sản phẩm. Đặt hàng nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật chế biến – bảo quản – kiểm nghiệm chất lượng. Có cơ chế hỗ trợ hợp tác xã dược liệu (vốn, đất đai, thị trường, xúc tiến thương mại) để tránh tình trạng “được mùa mất giá” hay “mạnh ai nấy làm”.
Kết luận: Khi “nam dược” trở thành một trụ cột mềm của nông thôn mới
Tinh thần xuyên suốt của Kết luận 219 là tiếp tục khẳng định vị trí chiến lược lâu dài của nông nghiệp, nông dân, nông thôn; thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; nâng cao đời sống nông dân; hoàn thiện thể chế và huy động nguồn lực xã hội.
Trong bức tranh đó, Hội Đông y Việt Nam không chỉ là “người giữ nghề”, mà có thể là tác nhân phát triển: góp phần hình thành vùng nguyên liệu dược liệu chuẩn; tạo việc làm, tăng thu nhập; đưa sản phẩm nam dược vào OCOP và thị trường hiện đại; và quan trọng hơn, nâng chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng nông thôn.
Nếu triển khai đúng hướng, “vườn thuốc nam” sẽ không chỉ là một mô hình phong trào; mà trở thành biểu tượng của một nông thôn mới: xanh hơn – khỏe hơn – giàu hơn, đúng tinh thần tiếp tục thực hiện Nghị quyết 19 dưới ánh sáng Kết luận 219 của Bộ Chính trị./.
Một số hình ảnh trồng Hoài Sơn tại tỉnh Đắc Lắc.

