Đây cũng là thời điểm để thuốc Nam, văn hóa dưỡng sinh và những giá trị chữa lành của người Việt được nhìn nhận như một phần quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của đất nước.
Tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu phải triển khai YHCT một cách thực chất, tránh hình thức, tránh phong trào, đồng thời phải gắn bảo tồn với phát triển, gắn chuyên môn với đời sống, gắn chăm sóc sức khỏe với kinh tế dược liệu, du lịch sức khỏe và sức mạnh mềm quốc gia.

Trong tầm nhìn phát triển mới, YHCT Việt Nam cần được nhìn như một hệ sinh thái lớn, kết nối y tế, dược liệu, nông nghiệp, văn hóa, giáo dục, du lịch, khoa học công nghệ, kinh tế xanh và ngoại giao nhân văn. Đây không chỉ là lĩnh vực khám chữa bệnh, mà còn là không gian phát triển của sức khỏe cộng đồng, của sinh kế nông thôn, của công nghiệp dược liệu, của du lịch chữa lành, của bảo tồn di sản và của thương hiệu quốc gia.
Nền tảng đầu tiên của hệ sinh thái ấy là dược liệu
Dược liệu không chỉ là nguyên liệu làm thuốc, đó là tài sản sinh học quốc gia. Việt Nam là quốc gia có điều kiện tự nhiên phong phú, khí hậu nhiệt đới, nhiều vùng sinh thái khác nhau, nhiều cây thuốc quý và kho tàng tri thức dân gian rất lớn.
Nhưng một nghịch lý lớn là tiềm năng dược liệu của Việt Nam vẫn chưa được khai thác tương xứng với giá trị vốn có. Nhiều cây thuốc quý vẫn chủ yếu được bán dưới dạng thô, giá trị kinh tế thấp; vùng trồng chưa được chuẩn hóa, nguồn gen có nguy cơ mai một, trong khi người dân nắm giữ tri thức bản địa lại chưa được hưởng lợi đầy đủ. Bên cạnh đó, tình trạng dược liệu không rõ nguồn gốc, nhập lậu, pha trộn hoặc kém chất lượng vẫn còn tồn tại, trái ngược với xu hướng ngày càng tăng của thị trường đối với các sản phẩm tự nhiên, thảo dược, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp và du lịch chữa lành.
Vì vậy, chương trình quốc gia phát triển YHCT cần đặt dược liệu vào vị trí chiến lược. Cần xây dựng bản đồ dược liệu quốc gia, danh mục dược liệu ưu tiên, vùng trồng chuẩn, trung tâm giống, cơ chế bảo tồn nguồn gen, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng, chế biến sâu và thương hiệu quốc gia cho dược liệu Việt Nam.
Phải chuyển từ tư duy “trồng cây thuốc” sang tư duy “xây dựng chuỗi giá trị dược liệu”. Một cây thuốc không chỉ có giá trị khi bán khô theo cân. Nó có thể trở thành trà thảo dược, cao dược liệu, thực phẩm bổ sung, mỹ phẩm thảo dược, sản phẩm chăm sóc sức khỏe, nguyên liệu nghiên cứu, hợp chất tự nhiên, sản phẩm du lịch, câu chuyện văn hóa và thương hiệu địa phương. Khi đó, nông dân không chỉ là người trồng cây, mà là người tham gia vào kinh tế sức khỏe. Đồng bào dân tộc không chỉ là người giữ tri thức, mà là chủ thể của phát triển. Vùng núi không chỉ là nơi cung cấp nguyên liệu, mà có thể trở thành điểm đến dược liệu và chữa lành.
Nền tảng thứ hai là tri thức bản địa và bài thuốc gia truyền
Y học truyền thống không chỉ tồn tại trong sách vở mà còn hiện diện trong ký ức lương y, kinh nghiệm dân gian, các dòng họ làm thuốc và nếp sống dưỡng sinh của người Việt. Đây là tài sản tri thức quý giá nhưng rất dễ mai một nếu không được bảo vệ và lưu giữ.
Nhiều bài thuốc có nguy cơ thất truyền, nhiều kinh nghiệm chữa bệnh khó đi vào hệ thống chính thống do thiếu cơ chế bảo hộ, thẩm định và chia sẻ lợi ích phù hợp. Đặc biệt, khi các lương y cao tuổi qua đời, nhiều “thư viện sống” của dân tộc cũng mất theo.
Vì vậy, cần sớm xây dựng cơ chế quốc gia về bảo hộ bài thuốc gia truyền, tri thức bản địa và di sản chữa bệnh, vừa bảo vệ bí quyết, tôn trọng chủ thể tri thức, vừa tạo điều kiện để các giá trị y học cổ truyền được nghiên cứu, phát huy và phục vụ cộng đồng.
Nền tảng thứ ba là du lịch sức khỏe và chữa lành dựa trên YHCT
Thế giới đang phát triển mạnh du lịch wellness, chữa lành và chăm sóc thân - tâm - trí. Nhiều quốc gia đã biến y học truyền thống thành thương hiệu quốc gia như Ayurveda và Yoga của Ấn Độ, Onsen của Nhật Bản hay massage trị liệu của Thái Lan.
| Việt Nam cũng có nhiều lợi thế để phát triển du lịch sức khỏe với thuốc Nam, dược liệu, dưỡng sinh, châm cứu, ẩm thực lành mạnh cùng hệ sinh thái núi, rừng, biển, suối khoáng và bản sắc văn hóa của 54 dân tộc. Đây là nền tảng quý để xây dựng thương hiệu du lịch chữa lành mang bản sắc Việt. |
Tuy nhiên, lĩnh vực này không thể phát triển tự phát. Việc nhiều dịch vụ gắn mác “chữa lành”, “thải độc”, “trị liệu” quảng cáo quá mức, thiếu tiêu chuẩn và kiểm soát có thể ảnh hưởng sức khỏe người dân và uy tín quốc gia.
Vì vậy, cần sớm xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia cho du lịch sức khỏe dựa trên y học cổ truyền, quy định rõ về nhân lực, quy trình, dược liệu, mức độ can thiệp, an toàn và cơ chế phối hợp với y học hiện đại để quản lý và phát triển đúng hướng.
Nếu được phát triển bài bản, Việt Nam có thể hình thành các làng dược liệu, trung tâm dưỡng sinh, spa thảo dược, tuyến du lịch theo dấu danh y hay các mô hình nghỉ dưỡng chữa lành mang bản sắc riêng. Đây không chỉ là kinh tế du lịch mà còn là cơ hội đưa văn hóa chữa bệnh Việt Nam ra thế giới.
Du khách đến Việt Nam không chỉ tham quan cảnh đẹp mà còn có thể trải nghiệm trà thảo dược, ngâm chân thuốc Nam, dưỡng sinh, ẩm thực lành mạnh và tìm hiểu triết lý sống thuận tự nhiên của người Việt.
Để hiện thực hóa mục tiêu này cần sự phối hợp liên ngành giữa y tế, văn hóa, du lịch, nông nghiệp, khoa học công nghệ, doanh nghiệp và cộng đồng. Y học cổ truyền cần vượt ra ngoài phạm vi khám chữa bệnh để trở thành ngành công nghiệp sức khỏe mang bản sắc Việt; dược liệu trở thành kinh tế sinh học; tri thức bản địa được bảo hộ; còn du lịch chữa lành phát triển thành thương hiệu quốc gia có tiêu chuẩn.
Đến năm 2045, YHCT Việt Nam cần có vị thế xứng đáng hơn: là trụ cột chăm sóc sức khỏe cộng đồng, là ngành kinh tế xanh dựa trên dược liệu, là nền tảng du lịch sức khỏe, là di sản sống của dân tộc và là sức mạnh mềm của quốc gia.
Một đất nước mạnh không chỉ là đất nước có công nghệ hiện đại, đô thị lớn, công nghiệp phát triển. Một đất nước mạnh còn là đất nước biết chăm sóc con người từ gốc rễ; biết bảo vệ sức khỏe nhân dân; biết giữ gìn tri thức của tổ tiên; biết biến cây cỏ, văn hóa, lòng nhân ái và đạo thầy thuốc thành nguồn lực phát triển.
| Đến năm 2030, Việt Nam cần đặt nền móng cho hệ sinh thái này: thể chế đặc thù, cơ sở dữ liệu, vùng dược liệu chuẩn, tiêu chuẩn dịch vụ, mô hình điểm đến, cơ chế bảo hộ tri thức, đội ngũ nhân lực, truyền thông chính thống và thương hiệu quốc gia về YHCT. |
Đưa YHCT về với cộng đồng là bước đầu. Biến YHCT thành sức mạnh mềm quốc gia là tầm nhìn xa hơn. Và đó là việc Việt Nam hoàn toàn có thể làm được nếu chúng ta có chiến lược đúng, thể chế đúng, tiêu chuẩn đúng và niềm tin đúng vào giá trị của chính mình.
TS. Lương y Phùng Tuấn Giang
Theo: Tienphong.vn