Phát Triển Nam Y, Nam Dược Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Nghị Quyết 72-NQ/TW

10/09/2026 9 lượt xem
A A- A+

Từ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền y học “khoa học, dân tộc và đại chúng” đến những yêu cầu mới của Nghị quyết số 72-NQ/TW, Nam y, Nam dược đang đứng trước cơ hội chuyển mình: từ những giá trị được lưu truyền trong cộng đồng thành nguồn lực của y tế cơ sở, khoa học – công nghệ, công nghiệp dược liệu và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Muốn hiện thực hóa cơ hội ấy, cần đổi mới tư duy, khắc phục cách làm phân tán và xây dựng một hệ sinh thái y học cổ truyền có chất lượng, bằng chứng và bản sắc Việt Nam.

Phát Triển Nam Y, Nam Dược Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Nghị Quyết 72-NQ/TW

Mạch nguồn của một nền y học dân tộc

Phát Triển Nam Y, Nam Dược Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Nghị Quyết 72-NQ/TW

Ảnh tư liệu của BV đa khoa Vân Đình

Việt Nam có nền y học dân tộc được bồi đắp qua hàng nghìn năm, gắn với điều kiện tự nhiên, đời sống lao động và kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe của các cộng đồng. Tư tưởng “Nam dược trị Nam nhân” của Đại danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh đã khẳng định giá trị của cây thuốc trên đất nước mình và trí tuệ của người Việt trong phòng bệnh, chữa bệnh.

Đến thời đại Hồ Chí Minh, mạch nguồn ấy được kế thừa và nâng lên thành tư tưởng xây dựng một nền y học mới: có bản sắc dân tộc, dựa trên khoa học, phục vụ rộng rãi nhân dân và chủ động tiếp thu tinh hoa y học thế giới.

Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế ngày 27-2-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Y học càng phải dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc và đại chúng.” Ngay sau đó, Người nhắc đến kinh nghiệm chữa bệnh bằng thuốc Nam, thuốc Bắc của cha ông và yêu cầu nghiên cứu, phối hợp thuốc Đông với thuốc Tây.

Lời dạy ngắn gọn nhưng chứa đựng một định hướng có ý nghĩa lâu dài: kế thừa phải gắn với đổi mới; giữ gìn bản sắc phải đi cùng tiến bộ khoa học; Đông y và Tây y không đứng ở hai phía đối lập mà cùng hướng tới mục tiêu cao nhất là sức khỏe của nhân dân.

Khi đến thăm Viện Đông y ngày 16-1-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh tinh thần học hỏi hai chiều: “Thầy thuốc Tây phải học Đông y, thầy thuốc ta cũng phải học thuốc Tây.” Đó không chỉ là lời căn dặn đối với người thầy thuốc, mà còn là tư tưởng mở đường cho sự kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại ở Việt Nam.

Nghị quyết 72 mở ra yêu cầu phát triển mới

Ngày nay, những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được soi sáng trong đường lối bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9-9-2025 của Bộ Chính trị đặt ra những giải pháp đột phá nhằm củng cố hệ thống y tế, tăng cường phòng bệnh, nâng cao năng lực y tế cơ sở, phát triển khoa học – công nghệ, dược liệu và y học cổ truyền.

Điểm nổi bật của Nghị quyết 72 là yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy tập trung chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe toàn diện và quản lý sức khỏe theo vòng đời. Đây chính là không gian để Nam y phát huy thế mạnh trong dưỡng sinh, phòng bệnh, chăm sóc người cao tuổi, hỗ trợ quản lý bệnh mạn tính, phục hồi chức năng và nâng cao chất lượng sống.

Nghị quyết cũng tạo động lực để nhìn nhận Nam dược không chỉ là những cây thuốc quen thuộc trong dân gian. Đó còn là nguồn tài nguyên sinh học, nguồn gen, kho tri thức bản địa và tiềm năng phát triển những sản phẩm có giá trị phục vụ sức khỏe, sinh kế cộng đồng và tự chủ y tế.

Vấn đề đặt ra không còn là có nên phát triển y học cổ truyền hay không, mà là phát triển bằng cách nào để vừa giữ được bản sắc, vừa bảo đảm chất lượng, hiệu quả và an toàn; vừa phục vụ người dân, vừa tạo ra giá trị khoa học và kinh tế.

Từ phát triển riêng lẻ đến xây dựng hệ sinh thái

Ngày 9-9-2026, Bộ Y tế tổ chức hội thảo lấy ý kiến xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tại hội thảo, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan đặt vấn đề đổi mới tư duy, chuyển từ phát triển từng lĩnh vực riêng lẻ sang hình thành một hệ sinh thái gắn y học cổ truyền với y tế cơ sở, khoa học – công nghệ, dược liệu, đào tạo và thị trường.

Đây là bước phát triển phù hợp với tinh thần Nghị quyết 72. Y học cổ truyền không thể phát triển bền vững nếu vùng trồng dược liệu tách rời cơ sở chế biến; hoạt động khám chữa bệnh tách rời đào tạo; kinh nghiệm của lương y tách rời nghiên cứu; hay bảo tồn tri thức tách rời quyền lợi của cộng đồng đang nắm giữ di sản.

Một hệ sinh thái hoàn chỉnh phải kết nối được nhiều chủ thể: cơ quan quản lý, cơ sở khám chữa bệnh, viện nghiên cứu, trường đào tạo, hội nghề nghiệp, doanh nghiệp, hợp tác xã, người trồng dược liệu và cộng đồng. Trong hệ sinh thái ấy, mỗi cây thuốc phải có nguồn gốc rõ ràng; mỗi bài thuốc, phương pháp điều trị cần được sàng lọc, chuẩn hóa; mỗi sản phẩm phải bảo đảm chất lượng; mỗi dịch vụ phải đặt an toàn và quyền lợi người bệnh lên trước.

Chiến lược quốc gia hiện đang trong quá trình xây dựng và lấy ý kiến. Tuy nhiên, những vấn đề được đặt ra đã cho thấy quyết tâm đưa y học cổ truyền phát triển ở tầm cao mới, đồng thời mở ra cơ hội để các tổ chức hội và đội ngũ người làm Nam y đóng góp tiếng nói từ thực tiễn.

Có nền tảng nhưng phát triển chưa đồng đều

Việt Nam đã hình thành mạng lưới y học cổ truyền từ Trung ương đến địa phương; có hệ thống bệnh viện chuyên khoa, khoa y học cổ truyền trong các bệnh viện đa khoa, bộ phận chuyên môn tại một số trung tâm y tế và trạm y tế. Nguồn dược liệu phong phú, tri thức bản địa đa dạng và nhu cầu sử dụng của người dân là những lợi thế lớn.

Tuy nhiên, lợi thế ấy chưa được chuyển hóa tương xứng thành năng lực cung ứng dịch vụ và sản phẩm. Chất lượng chuyên môn giữa các tuyến, các địa phương còn khác nhau. Có nơi y học cổ truyền phát triển khá toàn diện; có nơi hoạt động còn mờ nhạt do thiếu nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị hoặc chưa được bố trí danh mục kỹ thuật phù hợp.

Việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại đã được thực hiện tại nhiều cơ sở nhưng chưa đồng đều. Một số mô hình mới dừng ở việc cùng tồn tại trong một bệnh viện, chưa có quy trình phối hợp, hội chẩn, theo dõi và đánh giá kết quả thống nhất. Dữ liệu về bài thuốc, vị thuốc, phương pháp không dùng thuốc và kết quả điều trị còn phân tán, gây khó khăn cho nghiên cứu, tổng kết và nhân rộng.

Đối với dược liệu, khoảng cách từ tiềm năng đến giá trị thực tế vẫn còn lớn. Một số địa phương đã hình thành vùng trồng, nhưng chuỗi liên kết từ giống, nuôi trồng, thu hái đến sơ chế, kiểm nghiệm, sản xuất và tiêu thụ chưa thật sự liền mạch. Nếu chỉ mở rộng diện tích mà thiếu tiêu chuẩn, đầu ra và công nghệ chế biến sâu, dược liệu khó trở thành sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Có thể khái quát thực trạng bằng ba nhận định: có mô hình nhưng chưa hình thành hệ thống đồng đều; có hoạt động nhưng chất lượng chưa thống nhất; có kinh nghiệm nhưng còn thiếu dữ liệu chuẩn hóa. Nhìn thẳng vào những hạn chế ấy không phải để thu hẹp vai trò của Nam y, mà để xác định đúng những việc cần ưu tiên đầu tư.

Để vườn thuốc Nam thực sự sống trong cộng đồng

Phát Triển Nam Y, Nam Dược Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Nghị Quyết 72-NQ/TW

Nghiên cứu học tập, trao đổi kinh nghiệm trồng hái và sử dụng thuốc Nam với đồng bào dân tộc tại Ba Vì (ảnh TG)

Vườn thuốc Nam là hình ảnh gần gũi của nền y học Việt Nam. Nhiều trạm y tế, cơ sở khám chữa bệnh y học cổ truyền, trường học, cơ sở tôn giáo và cộng đồng đã xây dựng vườn cây thuốc nhằm bảo tồn giống, hướng dẫn nhận biết và phổ biến kinh nghiệm sử dụng dược liệu.

Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã đến năm 2030 đã đưa vườn thuốc Nam mẫu hoặc bộ tranh cây thuốc mẫu vào nội dung đánh giá hoạt động y tế cơ sở. Điều đó khẳng định vườn thuốc Nam có vị trí trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, chứ không chỉ là một cảnh quan hoặc hoạt động phong trào.

Tuy nhiên, nơi này, nơi khác vẫn còn tình trạng vườn thuốc được xây dựng để đáp ứng tiêu chí nhưng thiếu người chăm sóc; nhãn cây chưa đầy đủ; cây chết không được bổ sung; hoạt động hướng dẫn người dân còn ít. Một vườn thuốc có nhiều cây nhưng không được sử dụng trong truyền thông và thực hành thì giá trị đối với cộng đồng vẫn hạn chế.

Đã đến lúc chuyển từ “vườn thuốc để trưng bày” sang “vườn thuốc để giáo dục, bảo tồn và thực hành có hướng dẫn”. Mỗi cây cần được ghi tên Việt Nam, tên khoa học, bộ phận dùng, phạm vi sử dụng và cảnh báo an toàn. Có thể bổ sung mã truy cập để người dân đọc thông tin từ nguồn đáng tin cậy.

Vườn thuốc Nam cũng có thể trở thành một lớp học mở của cộng đồng. Tại đây, cán bộ y tế, hội viên và người dân cùng nhận biết cây thuốc; tìm hiểu cách trồng, thu hái và sử dụng hợp lý; đồng thời được hướng dẫn dấu hiệu nào có thể tự chăm sóc, dấu hiệu nào phải đi khám và trường hợp nào cần chuyển cấp cứu.

Nếu được tổ chức tốt, vườn thuốc Nam còn có thể kết nối với trường học, điểm du lịch sinh thái, vùng bảo tồn cây thuốc và sinh kế của người dân. Khi đó, một khu vườn nhỏ không chỉ lưu giữ cây thuốc mà còn góp phần lưu giữ tri thức, văn hóa và trách nhiệm bảo vệ môi trường.

Đưa phương pháp không dùng thuốc về gần dân

Phát Triển Nam Y, Nam Dược Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Nghị Quyết 72-NQ/TW

Hướng dẫn nhĩ châm cho các bác sỹ BV Y học cổ truyền tỉnh Lào Cai tại Trung tâm cấy chỉ - Phục hồi chức năng Minh Quang

Châm cứu, điện châm, cứu, xoa bóp – bấm huyệt, dưỡng sinh và phục hồi chức năng là những phương pháp có khả năng đóng góp thiết thực tại tuyến cơ sở khi được thực hiện đúng phạm vi chuyên môn. Đây cũng là nhóm dịch vụ phù hợp với xu hướng chăm sóc liên tục, quản lý đau, chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ một số bệnh mạn tính.

Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã xác định khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền bao gồm cả phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc, đồng thời khuyến khích kết hợp với y học hiện đại. Cơ sở chính sách đã có, nhưng để triển khai hiệu quả cần giải quyết đồng thời các vấn đề về nhân lực, phòng kỹ thuật, trang thiết bị, danh mục kỹ thuật, kiểm soát nhiễm khuẩn và cơ chế thanh toán.

Không nên phát triển dịch vụ bằng cách chạy theo số lượng. Mỗi kỹ thuật phải được thực hiện đúng chỉ định, đúng người có chuyên môn, có quy trình an toàn và theo dõi kết quả. Đối với kỹ thuật can thiệp như châm cứu, cấy chỉ, yêu cầu vô khuẩn, theo dõi sau thủ thuật và khả năng xử trí hoặc chuyển tuyến phải được bảo đảm.

Dưỡng sinh, vận động trị liệu và hướng dẫn tự chăm sóc cũng không nên phổ biến như một công thức chung cho tất cả mọi người. Nội dung hướng dẫn cần phù hợp với tuổi, thể trạng, bệnh nền và khả năng vận động của từng nhóm đối tượng.

Tại trạm y tế, các phương pháp không dùng thuốc có thể được tổ chức trong một gói chăm sóc tích hợp gồm sàng lọc nguy cơ, tư vấn dinh dưỡng, hướng dẫn vận động – dưỡng sinh, phục hồi chức năng, theo dõi sức khỏe và chuyển tuyến khi cần. Cách làm này vừa phát huy thế mạnh của Nam y, vừa gắn với yêu cầu quản lý sức khỏe theo vòng đời của Nghị quyết 72.

Kết hợp Đông–Tây y vì người bệnh

Kết hợp Đông–Tây y không đơn thuần là đặt hai khoa chuyên môn cạnh nhau hoặc sử dụng càng nhiều phương pháp càng tốt. Sự kết hợp cần bắt đầu từ nhu cầu cụ thể của người bệnh, dựa trên chẩn đoán, giai đoạn bệnh, bằng chứng, mức độ an toàn và năng lực của cơ sở điều trị.

Y học hiện đại có ưu thế trong cấp cứu, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm, phẫu thuật, kiểm soát nhiễm khuẩn và nhiều phương pháp điều trị chuyên sâu. Y học cổ truyền có thể đóng góp trong phòng bệnh, dưỡng sinh, chăm sóc liên tục, phục hồi chức năng và điều trị hỗ trợ ở những chỉ định phù hợp. Mỗi hệ thống có giá trị và giới hạn riêng, nhưng cùng gặp nhau ở mục tiêu phục vụ người bệnh.

Sự kết hợp đúng nghĩa phải có quy trình hội chẩn, hồ sơ dùng thuốc thống nhất, kiểm soát tương tác và cơ chế chuyển tuyến. Không để sử dụng y học cổ truyền làm chậm cấp cứu, trì hoãn chẩn đoán hoặc thay thế phương pháp điều trị cần thiết. Đồng thời, những bài thuốc và phương pháp truyền thống có tiềm năng cần được tạo điều kiện nghiên cứu, đánh giá công bằng và chuyển thành bằng chứng.

Đó cũng là cách thực hiện nguyên tắc “khoa học, dân tộc và đại chúng”: trân trọng di sản nhưng không thần bí hóa; tiếp thu y học hiện đại nhưng không xem nhẹ bản sắc; lựa chọn phương pháp dựa trên lợi ích và sự an toàn của người bệnh.

Năm chuyển đổi để Nam y bước vào giai đoạn mới

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu cầu của Nghị quyết 72 và những định hướng đang được Bộ Y tế nghiên cứu, có thể xác định năm chuyển đổi quan trọng:

Thứ nhất, từ bảo tồn thụ động sang bảo tồn sống. Tri thức Nam y cần được kiểm kê, số hóa, truyền dạy và tiếp tục ứng dụng trong đời sống. Người nắm giữ tri thức phải được tôn trọng, ghi nhận và tham gia chia sẻ lợi ích.

Thứ hai, từ vùng trồng riêng lẻ sang chuỗi giá trị dược liệu. Phát triển dược liệu phải gắn giống tốt với tiêu chuẩn nuôi trồng, thu hái, chế biến, kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc, thị trường và bảo vệ môi trường.

Thứ ba, từ kinh nghiệm phân tán sang dữ liệu và bằng chứng. Cần lựa chọn những cây thuốc, bài thuốc và phương pháp có tiềm năng để ưu tiên chuẩn hóa, đánh giá an toàn, hiệu quả và xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung.

Thứ tư, từ kết hợp hình thức sang chăm sóc tích hợp. Y học cổ truyền và y học hiện đại cần phối hợp bằng quy trình cụ thể trong phòng bệnh, quản lý bệnh mạn tính, chăm sóc người cao tuổi, quản lý đau và phục hồi chức năng.

Thứ năm, từ truyền thông một chiều sang nâng cao hiểu biết sức khỏe. Truyền thông về Nam y phải dễ hiểu, đúng bằng chứng, không quảng cáo quá mức; giúp người dân biết sử dụng hợp lý và nhận diện những thông tin sai lệch, thần bí hóa hoặc chữa bệnh truyền miệng thiếu căn cứ.

Phát huy vai trò của các hội nghề nghiệp

Hội Nam y Việt Nam, Hội Đông y Việt Nam, Hội Quân dân y Việt Nam cùng các tổ chức nghề nghiệp có thể đóng vai trò cầu nối giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, người thực hành và cộng đồng.

Trước mắt, các hội cần chủ động tham gia góp ý xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển nền y học cổ truyền; đề xuất những nhiệm vụ cụ thể về bảo tồn tri thức, chuẩn hóa vườn thuốc Nam, phát triển vùng dược liệu, xây dựng dữ liệu số và tổ chức các phương pháp không dùng thuốc tại y tế cơ sở.

Cùng với đó là xây dựng mạng lưới hợp tác giữa lương y, bác sĩ, dược sĩ, nhà thực vật học, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp; lựa chọn một số mô hình điểm để triển khai, đánh giá bằng dữ liệu trước khi nhân rộng.

Các hội cũng cần chú trọng bồi dưỡng kiến thức hai chiều. Người thực hành Nam y phải thường xuyên cập nhật kiến thức y học hiện đại, an toàn người bệnh và pháp luật. Cán bộ y học hiện đại cần được trang bị hiểu biết đúng về lý luận, phương pháp và giá trị văn hóa của y học cổ truyền.

Mỗi chương trình phải hướng tới sản phẩm cụ thể, có người phụ trách, tiến độ và tiêu chí đánh giá rõ ràng. Có như vậy, chủ trương lớn mới đi vào cuộc sống và những mô hình có giá trị mới được nhân rộng bền vững.

Đưa di sản bước vào tương lai

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền y học khoa học, dân tộc và đại chúng; về kế thừa kinh nghiệm của cha ông và phối hợp Đông y với Tây y vẫn giữ nguyên giá trị định hướng. Nghị quyết 72-NQ/TW đã tạo thêm động lực chính trị để những tư tưởng ấy được cụ thể hóa trong điều kiện mới.

Phát triển Nam y không phải là trở lại quá khứ, mà là đưa di sản bước vào tương lai bằng khoa học, đổi mới sáng tạo và trách nhiệm xã hội. Phát triển Nam dược không chỉ dừng ở việc khai thác cây thuốc, mà phải xây dựng được chuỗi giá trị có chất lượng, bảo vệ nguồn gen, môi trường và quyền lợi của cộng đồng.

Con đường phía trước có thể khái quát bằng một định hướng xuyên suốt: đưa Nam y từ di sản thành nguồn lực; đưa Nam dược từ tiềm năng thành sản phẩm có chất lượng; đưa kết hợp Đông–Tây y từ chủ trương thành thực hành vì người bệnh. Đó vừa là sự tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa là hành động thiết thực để thực hiện Nghị quyết 72, góp phần xây dựng một nước Việt Nam khỏe mạnh trong kỷ nguyên mới.

Nguồn tư liệu chính

Sáng 26/8, Hội Đông y tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị thừa kế các bài thuốc hay và kinh nghiệm quý trong khám, điều trị bằng phương pháp đông y hiệu quả năm 2026.
28/08/2026
Nhân dịp Đại lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946 – 22/8/2026) được tổ chức thành công tốt đẹp, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Hội Đông y Việt Nam, tôi xin trân trọng gửi tới Quý cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm cùng toàn thể cán bộ, hội viên lời cảm ơn chân thành và lòng tri ân sâu sắc nhất.
25/08/2026
Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (1946–2026), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật trân trọng giới thiệu đến bạn đọc cuốn sách: “Phát triển y học cổ truyền và xây dựng Hội Đông y Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây là công trình tâm huyết của Thầy thuốc Nhân dân, PGS.TS. Đậu Xuân Cảnh – Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam và Thầy thuốc Ưu tú, Đại tá, BS Quách Tuấn Vinh – Chủ tịch Chi hội Cấy chỉ Việt Nam, Hội Đông y Việt Nam đồng tác giả.
19/08/2026
(CLO) Dự thảo Thông tư của Bộ Y tế đề xuất quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám, chữa bệnh tại nhà được kỳ vọng mở ra cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế cho người cao tuổi, người khuyết tật và bệnh nhân mắc bệnh mạn tính.
07/08/2026
MỞ ĐẦU: TINH HOA Y ĐẠO VÀ BẢN LĨNH NAM Y
Đại danh y - Thiền sư Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV) không chỉ là ngôi sao sáng chói trong lịch sử y học cổ truyền Việt Nam mà còn để lại một hệ thống tư tưởng y lý sâu sắc, kết tinh từ tinh hoa văn hóa dân tộc và triết lý phương Đông. Tư tưởng của Ngài là sự hòa quyện tuyệt vời giữa Phật pháp từ bi, Nho giáo nhập thế và thực tiễn phong phú của nền y học bản địa ("Nam dược trị Nam nhân"). Chuyên khảo này hệ thống hóa các trước tác, khẩu quyết, châm ngôn và tư tưởng hành trị cốt lõi của Thiền sư, qua đó làm nổi bật kim chỉ nam cho các thế hệ thầy thuốc lương y noi theo trong sự nghiệp cứu người, dưỡng sinh.
06/08/2026
(Dân trí) - Theo chuyên gia, y học cổ truyền đang bị kìm kẹp bởi những quy định hành chính không được xây dựng dựa trên đặc thù của Đông y.
28/07/2026
BS QUÁCH TUẤN VINH – Hội Đông y Việt Nam.
Thạc sỹ Chung Thị Cẩm Nhung - Hội Đông y Việt Nam.
09/06/2026
Tác giả: BS. Quách Tuấn Vinh - Chủ tịch Chi hội Cấy chỉ Việt Nam – Hội Đông y Việt Nam và Thạc sỹ Chung Thị Cẩm Nhung – Hội Đông y Việt Nam
01/06/2026
Từ fascia – thần kinh – HPA – NEI đến phục hồi chức năng toàn thân
20/05/2026
Trong những năm gần đây, khi các bệnh mạn tính như tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa ngày càng gia tăng, con người bắt đầu nhìn lại những giá trị bền vững của y học truyền thống. Giữa nhiều phương pháp chăm sóc sức khỏe hiện đại, dưỡng sinh – một trụ cột quan trọng của Đông y – đang dần khẳng định vị thế như một giải pháp đơn giản, hiệu quả và phù hợp với đời sống hàng ngày. Không chỉ giúp phòng bệnh, dưỡng sinh còn hướng tới mục tiêu cao nhất: kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng sống.
21/04/2026
Từ hàng nghìn năm trước, người Á Đông đã biết rằng đôi tay có thể chữa lành. Những động tác xoa – ấn – đẩy – lăn – nắm tưởng chừng giản dị, nhưng lại chứa đựng triết lý sâu xa của y học cổ truyền: “Thông tắc bất thống, thống tắc bất thông” – khi kinh mạch thông suốt, bệnh tật tự lui.
05/02/2026
QC2
Đang online: 30
Tổng truy cập: 1.296.409
® Bản quyền thuộc về TW Hội Đông Y Việt Nam. Giấy phép số 164/GP-TTĐT do cục PTTH và TTĐT cấp