
Ảnh: TTND.PGS.TS Đậu Xuân Cảnh – Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam
Trong bối cảnh thế giới ngày càng quan tâm đến y học truyền thống, sức khỏe toàn diện, phòng bệnh chủ động và khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên, y học cổ truyền Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn. Đây không chỉ là cơ hội phát triển ngành dược liệu và dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà còn là điều kiện để quảng bá tri thức, văn hóa, đạo lý và hình ảnh con người Việt Nam.
Tuy nhiên, di sản chỉ có thể trở thành sức mạnh mềm khi được chuyển hóa thành những giá trị mà thế giới có thể hiểu, kiểm chứng, tin cậy và sử dụng. Vì vậy, đưa y học cổ truyền Việt Nam ra thế giới không thể chỉ dựa vào lịch sử lâu đời hay sự phong phú của cây thuốc. Chúng ta phải chứng minh giá trị bằng nghiên cứu khoa học, tiêu chuẩn chất lượng, hiệu quả thực tiễn và khả năng đáp ứng các nhu cầu sức khỏe đương đại.
Nền tảng văn hóa tạo nên bản sắc riêng
Nhắc đến bản sắc y học cổ truyền Việt Nam, trước hết phải nhắc tới Đại danh y Tuệ Tĩnh với tư tưởng “Nam dược trị Nam nhân” – dùng thuốc Nam để chăm sóc và chữa bệnh cho người Nam.
Giá trị của tư tưởng này không nên được hiểu theo nghĩa khép kín trong một phạm vi địa lý. Cốt lõi của “Nam dược trị Nam nhân” là tinh thần độc lập, tự chủ về tri thức; khả năng phát hiện và phát huy giá trị y học của tài nguyên bản địa; đồng thời xây dựng phương pháp chăm sóc sức khỏe phù hợp với thể chất, môi trường sống và văn hóa cộng đồng.
Với Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh đã góp phần hệ thống hóa kinh nghiệm sử dụng thuốc Nam, đặt nền móng cho một nền y học mang bản sắc Việt Nam. Ngày nay, tiếp nối tư tưởng ấy không chỉ là bảo tồn các bài thuốc cổ mà còn phải nghiên cứu dược liệu Việt Nam bằng phương pháp hiện đại, xác định rõ thành phần, tác dụng, độ an toàn và tiêu chuẩn chất lượng để tạo ra sản phẩm có giá trị cho người Việt Nam và cộng đồng quốc tế.
Đến thế kỷ XVIII, Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã phát triển lý luận và thực hành y học cổ truyền Việt Nam lên một tầm cao mới. Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh không chỉ là một công trình y học đồ sộ mà còn thể hiện tư tưởng nhân văn sâu sắc về trách nhiệm của người thầy thuốc.
Trong di sản của Hải Thượng Lãn Ông, y thuật luôn gắn với y đức. Người làm nghề y phải có kiến thức và năng lực chuyên môn, đồng thời phải giữ lòng nhân ái, sự khiêm nhường, tinh thần tận tụy và trách nhiệm đối với người bệnh. Đây cũng là những giá trị phổ quát mà y học hiện đại đề cao: lấy người bệnh làm trung tâm, tôn trọng phẩm giá con người và đặt đạo đức nghề nghiệp lên hàng đầu.
Cùng với đó, Ngư Tiều y thuật vấn đáp của Nguyễn Đình Chiểu là một trường hợp đặc biệt về sự giao thoa giữa y học, văn học, đạo lý và tinh thần yêu nước. Thông qua hình thức đối thoại, tác phẩm thể hiện quan niệm chữa bệnh phải gắn với bồi đắp nhân tâm; người hành nghề y phải giữ đạo nghĩa, khí tiết và trách nhiệm đối với cộng đồng.
Ba di sản lớn – Nam dược thần hiệu, Hải Thượng y tông tâm lĩnh và Ngư Tiều y thuật vấn đáp – góp phần tạo nên ba trụ cột của y học cổ truyền Việt Nam: bản sắc dược liệu bản địa, nền y thuật được tích lũy từ thực tiễn và đạo lý hành nghề vì con người. Đây chính là nền tảng văn hóa để phát triển sức mạnh mềm quốc gia.
Khoa học là con đường đưa di sản vào tương lai
Kinh nghiệm sử dụng lâu đời là một nguồn dữ liệu quý nhưng chưa phải là bằng chứng đầy đủ về hiệu quả và độ an toàn. Một bài thuốc được lưu truyền qua nhiều thế hệ cũng chưa đương nhiên trở thành sản phẩm được thị trường và hệ thống y tế quốc tế chấp nhận.
Muốn bước ra thế giới, y học cổ truyền Việt Nam phải có khả năng đối thoại với khoa học hiện đại bằng dữ liệu minh bạch và phương pháp nghiên cứu đáng tin cậy.
Trước hết, Việt Nam cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về y học cổ truyền, bao gồm các trước tác, bài thuốc, phương pháp chữa bệnh, kỹ thuật dưỡng sinh và tri thức sử dụng dược liệu. Dữ liệu phải được phân loại theo nguồn gốc, phạm vi sử dụng, mức độ bằng chứng và nguy cơ an toàn. Quá trình này đồng thời phải bảo vệ quyền lợi của cộng đồng, dòng họ, lương y và những người đang nắm giữ tri thức truyền thống.
Các tác phẩm kinh điển cần được dịch sang tiếng Anh và những ngôn ngữ quốc tế quan trọng. Công việc dịch thuật phải có sự tham gia của chuyên gia Hán Nôm, thầy thuốc, dược sĩ, bác sĩ, nhà sử học và dịch giả chuyên ngành. Một bản dịch có giá trị không chỉ chuyển nghĩa câu chữ mà còn phải giải thích được hệ thống khái niệm, bối cảnh văn hóa và giới hạn áp dụng của tri thức cổ truyền.
Từ kho tri thức đã được hệ thống hóa, cần lựa chọn những bài thuốc, dược liệu và phương pháp có triển vọng để nghiên cứu theo lộ trình. Trước hết là định danh chính xác nguyên liệu; tiếp đó là phân tích thành phần hóa học, nghiên cứu cơ chế tác dụng, đánh giá độc tính, tương tác thuốc và độ ổn định; cuối cùng là nghiên cứu lâm sàng phù hợp.
Phương pháp nghiên cứu cần tôn trọng đặc trưng cá thể hóa và biện chứng luận trị của y học cổ truyền, đồng thời tuân thủ các nguyên tắc về đạo đức, đăng ký đề cương, lựa chọn tiêu chí đánh giá, minh bạch dữ liệu và khả năng kiểm chứng. Kết quả tích cực phải được công bố; kết quả chưa tích cực cũng cần được ghi nhận trung thực. Chính tinh thần khoa học này sẽ tạo dựng niềm tin lâu dài.
Chuẩn hóa dược liệu và bảo vệ tài nguyên
Việt Nam có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú, với nhiều loài đặc hữu và gắn bó mật thiết với văn hóa của các vùng, miền. Tuy nhiên, lợi thế tự nhiên chỉ trở thành lợi thế kinh tế khi chúng ta kiểm soát được toàn bộ chuỗi giá trị.
Mỗi dược liệu chủ lực phải được định danh chính xác bằng các phương pháp hình thái, hóa học và khi cần thiết là sinh học phân tử. Chất lượng dược liệu phải được kiểm soát từ giống, đất, nước, vùng trồng, điều kiện sinh thái đến thời điểm thu hái, sơ chế và bảo quản.
Cần xây dựng các vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn thực hành tốt nuôi trồng và thu hái dược liệu; cấp mã số vùng trồng; quản lý nhật ký canh tác; kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, vi sinh vật và độc tố. Mỗi lô nguyên liệu phải có khả năng truy xuất và được kiểm nghiệm độc lập.
Những dược liệu tiêu biểu như sâm Việt Nam, quế, hồi, atiso, đinh lăng, nghệ và các cây thuốc đặc hữu cần được xây dựng “hộ chiếu khoa học”. Hồ sơ này phải thể hiện được nguồn gene, vùng địa lý, thành phần hóa học đặc trưng, tiêu chuẩn chất lượng, độ an toàn và công dụng đã được chứng minh.
Phát triển dược liệu phải đồng thời góp phần bảo tồn đa dạng sinh học. Không thể đánh đổi rừng tự nhiên, nguồn gene quý và sinh kế lâu dài của cộng đồng lấy sản lượng trước mắt. Mô hình phù hợp là sự liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân địa phương; trong đó cộng đồng vừa tham gia sản xuất, vừa bảo vệ tài nguyên và được chia sẻ công bằng giá trị tạo ra.
An toàn và y đức quyết định uy tín quốc gia
Một thương hiệu y học quốc gia không thể được xây dựng bằng những tuyên bố thiếu căn cứ. Việt Nam cần phát triển hệ thống cảnh giác dược đối với thuốc cổ truyền, dược liệu và sản phẩm chăm sóc sức khỏe; chủ động ghi nhận, đánh giá và xử lý phản ứng có hại, đồng thời nghiên cứu nguy cơ tương tác giữa thuốc cổ truyền với thuốc hiện đại.
Cần kiên quyết ngăn chặn tình trạng trộn tân dược trái phép, giả mạo dược liệu, quảng cáo vượt quá công dụng hoặc thần thánh hóa một phương pháp điều trị. Những hành vi này có thể mang lại lợi ích ngắn hạn nhưng gây tổn hại lâu dài cho người bệnh và uy tín quốc gia.
Đạo đức hành nghề trong thời đại mới phải bao gồm cả đạo đức nghiên cứu, đạo đức truyền thông và trách nhiệm giải trình. Người hành nghề và doanh nghiệp phải phân biệt rõ đâu là kinh nghiệm truyền thống, đâu là kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, đâu là bằng chứng lâm sàng và đâu là công dụng đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận.
Từng bước kiến tạo sức mạnh mềm
Thương hiệu y học cổ truyền Việt Nam có thể được định vị bằng thông điệp: “Di sản bản địa – bằng chứng khoa học – giá trị vì con người.” Thiếu bản sắc, chúng ta không tạo được khác biệt; thiếu khoa học, chúng ta không tạo được niềm tin; thiếu tinh thần phục vụ con người, thương hiệu không thể phát triển bền vững.
Quá trình phát triển sức mạnh mềm cần được thực hiện theo năm bước.
Thứ nhất, kiểm kê, số hóa và bảo tồn di sản; xác định những tác phẩm, nhân vật, bài thuốc, phương pháp và vùng dược liệu tiêu biểu.
Thứ hai, chuyển hóa di sản thành tri thức hiện đại thông qua dịch thuật, nghiên cứu, chuẩn hóa và công bố quốc tế.
Thứ ba, chuẩn hóa sản phẩm và dịch vụ. Việt Nam cần chuyển dần từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang cao dược liệu chuẩn hóa, sản phẩm có hàm lượng hoạt chất ổn định và hồ sơ an toàn đầy đủ. Các cơ sở khám chữa bệnh phục vụ người nước ngoài phải đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, ngoại ngữ, an toàn người bệnh và phối hợp với y học hiện đại.
Thứ tư, xây dựng một số trung tâm y học cổ truyền có khả năng đại diện quốc gia, tích hợp khám chữa bệnh, dưỡng sinh, phục hồi chức năng, nghiên cứu, đào tạo và trải nghiệm văn hóa. Có thể kết nối các trung tâm này với vùng dược liệu và du lịch chăm sóc sức khỏe, nhưng phải bảo đảm nền tảng chuyên môn và không thương mại hóa quá mức hoạt động điều trị.
Thứ năm, thiết lập mạng lưới hợp tác với các trường đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu và tổ chức y học truyền thống trên thế giới; tiến hành nghiên cứu đa trung tâm, trao đổi chuyên gia và tổ chức các diễn đàn học thuật quốc tế tại Việt Nam.

Lấy văn hóa làm bản sắc, lấy khoa học làm con đường
Đưa y học cổ truyền Việt Nam ra thế giới là một hành trình dài hạn, cần tầm nhìn quốc gia và sự phối hợp giữa Nhà nước, giới chuyên môn, doanh nghiệp và cộng đồng. Hiệu quả của hành trình này không chỉ được đo bằng doanh thu xuất khẩu, mà còn bằng số dược liệu được chuẩn hóa, số công trình khoa học có chất lượng, mức độ bảo tồn nguồn gene, thu nhập của cộng đồng vùng dược liệu và niềm tin của người sử dụng.
Tiếp nối Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông và Nguyễn Đình Chiểu không phải chỉ là nhắc lại danh tiếng của quá khứ. Đó là tiếp nối tinh thần tự chủ, trí tuệ, nhân ái và trách nhiệm của các bậc tiền nhân trong điều kiện mới.
Con đường phát triển cần dựa trên một phương châm nhất quán: lấy văn hóa làm bản sắc, lấy khoa học làm con đường, lấy chất lượng làm cam kết, lấy y đức làm nền tảng và lấy sức khỏe con người làm mục tiêu cao nhất.
Khi thực hiện được điều đó, y học cổ truyền Việt Nam sẽ không chỉ được thế giới biết đến như một di sản, mà còn được tin cậy như một nguồn tri thức sống động, một hệ thống chăm sóc sức khỏe có giá trị và một thành tố đặc sắc trong sức mạnh mềm của quốc gia./.
Tác giả:
PGS.TS Đậu Xuân CảnhChủ tịch Hội Đông y Việt Nam
Từ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền y học “khoa học, dân tộc và đại chúng” đến những yêu cầu mới của Nghị quyết số 72-NQ/TW, Nam y, Nam dược đang đứng trước cơ hội chuyển mình: từ những giá trị được lưu truyền trong cộng đồng thành nguồn lực của y tế cơ sở, khoa học – công nghệ, công nghiệp dược liệu và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Muốn hiện thực hóa cơ hội ấy, cần đổi mới tư duy, khắc phục cách làm phân tán và xây dựng một hệ sinh thái y học cổ truyền có chất lượng, bằng chứng và bản sắc Việt Nam.
10/09/2026
Sáng 26/8, Hội Đông y tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị thừa kế các bài thuốc hay và kinh nghiệm quý trong khám, điều trị bằng phương pháp đông y hiệu quả năm 2026.
28/08/2026
Nhân dịp Đại lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946 – 22/8/2026) được tổ chức thành công tốt đẹp, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Hội Đông y Việt Nam, tôi xin trân trọng gửi tới Quý cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm cùng toàn thể cán bộ, hội viên lời cảm ơn chân thành và lòng tri ân sâu sắc nhất.
25/08/2026
Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (1946–2026), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật trân trọng giới thiệu đến bạn đọc cuốn sách: “Phát triển y học cổ truyền và xây dựng Hội Đông y Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây là công trình tâm huyết của Thầy thuốc Nhân dân, PGS.TS. Đậu Xuân Cảnh – Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam và Thầy thuốc Ưu tú, Đại tá, BS Quách Tuấn Vinh – Chủ tịch Chi hội Cấy chỉ Việt Nam, Hội Đông y Việt Nam đồng tác giả.
19/08/2026
(CLO) Dự thảo Thông tư của Bộ Y tế đề xuất quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám, chữa bệnh tại nhà được kỳ vọng mở ra cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế cho người cao tuổi, người khuyết tật và bệnh nhân mắc bệnh mạn tính.
07/08/2026
MỞ ĐẦU: TINH HOA Y ĐẠO VÀ BẢN LĨNH NAM Y
Đại danh y - Thiền sư Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV) không chỉ là ngôi sao sáng chói trong lịch sử y học cổ truyền Việt Nam mà còn để lại một hệ thống tư tưởng y lý sâu sắc, kết tinh từ tinh hoa văn hóa dân tộc và triết lý phương Đông. Tư tưởng của Ngài là sự hòa quyện tuyệt vời giữa Phật pháp từ bi, Nho giáo nhập thế và thực tiễn phong phú của nền y học bản địa ("Nam dược trị Nam nhân"). Chuyên khảo này hệ thống hóa các trước tác, khẩu quyết, châm ngôn và tư tưởng hành trị cốt lõi của Thiền sư, qua đó làm nổi bật kim chỉ nam cho các thế hệ thầy thuốc lương y noi theo trong sự nghiệp cứu người, dưỡng sinh.
06/08/2026
(Dân trí) - Theo chuyên gia, y học cổ truyền đang bị kìm kẹp bởi những quy định hành chính không được xây dựng dựa trên đặc thù của Đông y.
28/07/2026
BS QUÁCH TUẤN VINH – Hội Đông y Việt Nam.
Thạc sỹ Chung Thị Cẩm Nhung - Hội Đông y Việt Nam.
09/06/2026
Tác giả: BS. Quách Tuấn Vinh - Chủ tịch Chi hội Cấy chỉ Việt Nam – Hội Đông y Việt Nam và Thạc sỹ Chung Thị Cẩm Nhung – Hội Đông y Việt Nam
01/06/2026
Từ fascia – thần kinh – HPA – NEI đến phục hồi chức năng toàn thân
20/05/2026
Trong những năm gần đây, khi các bệnh mạn tính như tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa ngày càng gia tăng, con người bắt đầu nhìn lại những giá trị bền vững của y học truyền thống. Giữa nhiều phương pháp chăm sóc sức khỏe hiện đại, dưỡng sinh – một trụ cột quan trọng của Đông y – đang dần khẳng định vị thế như một giải pháp đơn giản, hiệu quả và phù hợp với đời sống hàng ngày. Không chỉ giúp phòng bệnh, dưỡng sinh còn hướng tới mục tiêu cao nhất: kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng sống.
21/04/2026